Các biểu hiện của biến đổi khí hậu dễ nhận biết nhất

Từ khí quyển, đại dương đến từng vùng đất, Trái Đất đều đang ghi nhận các dấu hiệu biến đổi. Việc nhận diện các biểu hiện của biến đổi khí hậu giúp bạn thấy rõ mức độ ảnh hưởng thực tế trên thế giới và ở Việt Nam.

Xuất bản: Chủ nhật, 8-30-2026 lúc 9:00:07

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu dễ nhận biết nhất
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu dễ nhận biết nhất. Ảnh: LTC.

Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu

Lịch sử Trái đất từng ghi nhận 7 chu kỳ băng hà tiến và lùi trong 650.000 năm qua. Kỷ băng hà cuối cùng kết thúc đột ngột khoảng 11.700 năm trước, mở ra thời kỳ khí hậu hiện đại cùng sự phát triển của văn minh con người. Phần lớn dao động khí hậu thời kỳ đó xuất phát từ các biến đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái đất, làm thay đổi lượng năng lượng mặt trời đến hành tinh.

Thế nhưng, xu hướng ấm lên hiện nay lại mang tính chất đặc biệt. Tốc độ nóng lên này chưa từng có trong nhiều thập kỷ và hàng nghìn năm trước, với xác suất lớn hơn 95% nguyên nhân đến từ hoạt động của con người tính từ giữa thế kỷ 20.

Bức tranh toàn cảnh về các dấu hiệu biến đổi khí hậu trên Trái đất được làm rõ nhờ dữ liệu quan sát nhiều năm từ vệ tinh và công nghệ hiện đại.

Từ giữa thế kỷ 19, tính chất giữ nhiệt của carbon dioxide và các chất khí khác đã được xác nhận. Khả năng tác động đến sự truyền năng lượng hồng ngoại qua khí quyển của các chất khí này là cơ sở khoa học cho nhiều thiết bị của NASA, đồng thời chứng minh sự gia tăng khí nhà kính chắc chắn làm hành tinh nóng lên.

Phản ứng của khí hậu trước sự thay đổi lượng khí nhà kính được ghi lại rõ trong các lõi băng lấy từ Greenland, Nam Cực và các sông băng. Trầm tích đại dương, rạn san hô, vòng năm của cây và các lớp đá trầm tích cũng lưu giữ các bằng chứng cổ sinh vật học này. Dữ liệu cổ khí hậu ghi nhận tốc độ ấm lên hiện nay nhanh hơn khoảng 10 lần so với mức ấm lên trung bình sau kỷ băng hà. Song song đó, lượng carbon dioxide do con người tạo ra đang tăng nhanh hơn 250 lần so với các nguồn tự nhiên ở thời kỳ sau kỷ băng hà cuối cùng.

biểu hiện của ô nhiễm môi trường

Sông băng đang tan chảy do ảnh hưởng của ấm lên toàn cầu · Pexels / ATHENEA CODJAMBASSIS ROSSITTO

Nhiệt độ bề mặt toàn cầu tăng cao kỷ lục

Do khí thải carbon dioxide cùng các hoạt động của con người tăng cao, nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái đất đã tăng khoảng 1,18 độ C tính từ cuối thế kỷ 19. Đáng chú ý, phần lớn nhiệt lượng tăng thêm tập trung trong 40 năm qua, với 7 năm gần nhất có nhiệt độ cao nhất, trong đó năm 2016 và 2020 cùng giữ mức kỷ lục. Báo cáo Đánh giá lần thứ 6 (AR6) của IPCC cũng nêu rõ nhiệt độ bề mặt toàn cầu thời kỳ 2011-2020 cao hơn khoảng 1.09°C so với mốc 1850-1900.

Tuy nhiên, mức tăng nhiệt không diễn ra đều giữa các vùng mà tập trung mạnh hơn trên đất liền và tại các vùng cực. Hiện tượng này khiến các đợt sóng nhiệt xuất hiện nhiều hơn và gay gắt hơn ở nhiều nơi.

Nước đại dương ấm lên

Hiện có hơn 90% lượng năng lượng dư thừa của Trái đất nằm lại trong đại dương. Trong đó, lớp nước ở độ sâu 100 mét trên cùng đã ấm lên hơn 0,33 độ C từ năm 1969 đến nay.

Lượng nhiệt hấp thụ này vừa làm tăng nhiệt độ và khiến nước biển nở ra, vừa đẩy nhanh tốc độ tan băng, dẫn tới mực nước biển dâng cao.

Quá trình acid hóa nước biển

Khi hấp thụ lượng khí thải dư thừa, nước biển sẽ biến đổi tính chất, làm tan lớp vỏ vôi bảo vệ của các sinh vật biển còn non.

Kể từ khi Cách mạng Công nghiệp bắt đầu, việc con người thải thêm nhiều khí cacbonic vào bầu khí quyển đã khiến độ axit ở lớp nước bề mặt đại dương tăng khoảng 30%. Trong các thập kỷ gần đây, đại dương phải hấp thụ khoảng 20% đến 30% tổng lượng khí thải carbon dioxide do con người tạo ra, tương đương 25-30%, tức 7,2 đến 10,8 tỷ tấn mỗi năm. Cùng với lượng khí này, đại dương còn hấp thụ phần lớn nhiệt lượng dư thừa.

Việc hấp thụ lượng lớn CO2 làm biến đổi thành phần hóa học của nước biển, gây ô nhiễm và tạo hiện tượng axit hóa đại dương. Quá trình này đe dọa trực tiếp các sinh vật có khung xương hoặc vỏ canxi cacbonat như san hô, sò và một số loài phù du.

Quá trình acid hóa nước biển

Rạn san hô bị tẩy trắng do hiện tượng axit hóa đại dương · Pexels / Maahid Photos

Khối lượng băng tại Greenland và Nam Cực sụt giảm

Trung tâm thí nghiệm Phục hồi Trọng lực và Khí hậu của NASA ghi nhận khối lượng băng tại các mảng băng lớn đang sụt giảm. Cụ thể, từ năm 1993 đến 2019, Greenland mất 279 tỷ tấn băng mỗi năm, còn Nam Cực mất 148 tỷ tấn băng mỗi năm.

Diện tích băng biển Bắc Cực suy giảm

Trong vài thập kỷ qua, cả độ dày và diện tích bao phủ của lớp băng trên biển Bắc Cực đều giảm nhanh.

Tiêu biến của các sông băng trên núi cao

Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, sông băng đang biến mất, chẳng hạn tại các dãy Alpơ, Himalayas, Andes, Rockies, vùng Alaska và Châu Phi.

Độ che phủ tuyết mùa xuân sụt giảm

Ghi nhận từ hình ảnh vệ tinh cho thấy diện tích tuyết phủ mùa xuân tại Bắc bán cầu đã thu hẹp trong 5 thập kỷ qua, cùng với việc tuyết tan sớm hơn trước.

Mực nước biển dâng cao trên toàn cầu

Nước tự nở ra khi bị làm nóng, và hiện tượng này đóng góp phần lớn vào việc dâng lên của đại dương, cùng với lượng nước từ các khối băng tan.

Trong thế kỷ trước, mực nước biển toàn cầu đã tăng khoảng 20cm. Thế nhưng trong hai thập kỷ gần đây, tốc độ dâng tăng gần gấp đôi so với thế kỷ trước và tiếp tục tăng hàng năm, với tốc độ dâng trung bình đo từ vệ tinh đạt khoảng 3.7 mm/năm trong giai đoạn 2006-2018.

Khi mực nước biển trung bình toàn cầu dâng nhanh do nước nở ra vì nhiệt và băng tan từ sông băng, mảng băng tại Greenland, Nam Cực, nguy cơ ngập lụt tại các vùng bờ biển tăng lên. Quá trình này còn gây xói lở bờ biển và khiến nước mặn lấn sâu vào đất liền làm ô nhiễm môi trường biển.

Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan

Nếu thời tiết chỉ thể hiện các thay đổi trong vài ngày đến vài tuần, thì biến đổi khí hậu được xác định khi các dạng thời tiết cực đoan như mưa kỷ lục hay nhiệt độ vượt ngưỡng lặp lại dày đặc hơn và giữ xu hướng tăng suốt chu kỳ theo dõi ít nhất 30 năm.

Sự biến đổi này làm thay đổi các quy luật thời tiết, khiến các hiện tượng nguy hiểm xuất hiện nhiều hơn:

  • Sóng nhiệt: Xuất hiện thường xuyên hơn, duy trì thời gian dài hơn với mức nhiệt cao hơn. Tại Hoa Kỳ, các đợt nhiệt độ cao kỷ lục có xu hướng tăng lên trong khi các đợt nhiệt độ thấp kỷ lục giảm dần tính từ năm 1950.
  • Hạn hán: Mức độ khô hạn trở nên nghiêm trọng hơn tại một số vùng do lượng mưa biến động và tốc độ bốc hơi nước tăng cao.
  • Mưa lớn và lũ lụt: Lượng mưa tăng cường độ tại nhiều khu vực, dẫn tới ngập lụt nặng nề hơn; Hoa Kỳ cũng ghi nhận các đợt thiên tai mưa dữ dội xuất hiện ngày một nhiều.
  • Bão mạnh: Nước biển ấm lên cung cấp thêm nguồn năng lượng cho các cơn bão nhiệt đới, làm gia tăng sức gió và trút lượng mưa lớn hơn.

Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan

Đất đai nứt nẻ khô cằn do hạn hán kéo dài · Pexels / rol Estrell

Biểu hiện và thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Nằm trong vành đai nhiệt đới khiến nơi đây chịu nhiều xáo trộn từ các biểu hiện khí hậu thực tế.

Xu thế gia tăng nhiệt độ trung bình qua các thập kỷ

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0.5 - 0.7 độ C (khoảng 0.7°C) qua 50 năm. Báo cáo Quốc gia về Biến đổi Khí hậu 2021 cũng nêu mức tăng nhiệt độ trung bình toàn quốc đạt khoảng 0.89 độ C trong giai đoạn 1958 - 2018.

Nhiệt độ gia tăng khiến các đợt nắng nóng gay gắt hơn, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân và làm suy giảm năng suất cây trồng. Ví dụ vào mùa hè năm 2020, nhiều điểm tại miền Bắc Việt Nam ghi nhận mức nhiệt vượt 40 độ C, tạo nên đợt nóng kỷ lục ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt hàng ngày.

Phân bổ lượng mưa biến động bất thường theo không gian và thời gian

Biến đổi khí hậu làm xáo trộn vòng tuần hoàn nước tự nhiên, khiến vùng thiếu nước càng thêm khô cằn, trong khi vùng mưa phải hứng chịu những trận mưa dồn dập sinh ra lũ quét.

Chế độ mưa có sự phân hóa trái chiều giữa các vùng: lượng mưa trung bình hàng năm ở miền Bắc giảm khoảng 1.5% mỗi thập kỷ, trong khi ở miền Nam tăng khoảng 2% mỗi thập kỷ. Hệ quả là hạn hán và lũ lụt xuất hiện luân phiên.

Mực nước biển dâng và xâm nhập mặn vùng ven bờ

Tại dải ven biển nước ta, dấu hiệu nước biển dâng thể hiện rất rõ. Dữ liệu từ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu cho biết mực nước biển tại Việt Nam đã dâng khoảng 20 cm trong vòng một thế kỷ qua, với tốc độ đo được khoảng 3 mm mỗi năm. Dự báo tốc độ dâng này sẽ còn tăng nhanh hơn trong các thập kỷ tới.

Hệ quả là nguy cơ ngập mặn đe dọa trực tiếp các dải đất ven biển, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực duyên hải miền Trung, gây tổn hại nặng nề đến sinh hoạt và hoạt động nông nghiệp. Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long làm thất thoát khoảng 1 triệu tấn lúa mỗi năm, kéo theo thiệt hại kinh tế lớn.

Mực nước biển dâng và xâm nhập mặn vùng ven bờ

Cánh đồng ngập nước do triều cường và xâm nhập mặn · Pexels / Quang Nguyen Vinh

Để ứng phó xâm nhập mặn, người dân có thể cập nhật thông tin qua bản tin dự báo hàng tuần của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, đồng thời bám sát ngưỡng ranh mặn 4g/l trên các dòng sông chính nhằm chủ động đóng cống lấy nước ngọt trước các đợt triều cường.

Tần suất và cường độ thiên tai nhiệt đới chuyển biến phức tạp

Do nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bão nhiệt đới, Việt Nam ghi nhận các đợt thiên tai như hạn hán, lũ lụt, bão và nắng nóng kỷ lục xuất hiện với tần suất dày hơn. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, số lượng bão cùng áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam gần đây xuất hiện dày hơn, đi kèm cường độ mạnh và sức tàn phá lớn hơn. Tình trạng bão mạnh, lũ quét, ngập úng đô thị, hạn hán và xâm nhập mặn cũng diễn biến phức tạp tại Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh hiện tượng mưa đá, lốc xoáy xuất hiện với mật độ cao hơn ở một số địa phương.

Điển hình là cơn bão Molave năm 2020 đổ bộ tàn phá nặng nề các tỉnh miền Trung, khiến hàng chục người chết và mất tích, gây thiệt hại vật chất lên tới hàng ngàn tỷ đồng.

Suy thoái diện tích rừng ngập mặn và đa dạng sinh học

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích rừng ngập mặn tại Việt Nam đã sụt giảm khoảng 10% trong vòng 20 năm qua. Sự biến động về nhiệt độ và lượng mưa do biến đổi khí hậu tác động trực tiếp lên các hệ sinh thái, dẫn tới nguy cơ biến mất của nhiều loài động thực vật, làm suy thoái hệ sinh thái biển và ảnh hưởng đến sinh kế của các cộng đồng cư dân gắn liền với rừng ngập mặn.

Suy thoái diện tích rừng ngập mặn và đa dạng sinh học

Rừng ngập mặn ven biển giúp bảo vệ hệ sinh thái · Pexels / Malvin Biguerras

Tác động nhiều mặt của biến đổi khí hậu đến đời sống và kinh tế

Không còn là dự báo xa xôi, thách thức lớn nhất nhân loại đối mặt trong thế kỷ 21 đã trở thành hiện thực cấp bách. Tác động của biến đổi khí hậu hiện rõ khắp hành tinh, tạo xáo trộn sâu sắc từ hệ sinh thái tự nhiên đến kinh tế và sức khỏe con người.

Suy giảm năng suất nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực

Bị đe dọa trực tiếp bởi hạn hán và ngập mặn, an ninh lương thực cùng năng suất cây trồng đang chịu nhiều tổn hại. Theo số liệu ghi nhận từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tình trạng ngập mặn làm sản lượng lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long sụt giảm khoảng 1 triệu tấn mỗi năm, từ đó phát sinh thiệt hại kinh tế đáng kể.

Khi thời tiết biến đổi làm gián đoạn hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, sinh kế của người nông dân gặp rất nhiều khó khăn. Lũ lụt và hạn hán liên miên khiến năng suất hoa màu suy giảm, trong khi đất canh tác nhiễm mặn càng làm đời sống người dân thêm phần chật vật.

Cạn kiệt và suy thoái nguồn tài nguyên nước

Biến đổi khí hậu tạo sức ép lớn khiến nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu ngày càng khan hiếm, kéo theo tình trạng nhiễm mặn, nhiễm phèn cùng nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngầm. Sự suy thoái này gây ô nhiễm môi trường và mang lại thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp.

Bấp bênh sinh kế ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, ngư nghiệp là một trong những ngành chịu hậu quả trực tiếp. Bão lũ xảy ra triền miên làm diện tích nuôi trồng thủy sản bị thu hẹp và xáo trộn, trong khi tài nguyên biển suy giảm khiến hoạt động đánh bắt gặp nhiều trở ngại.

Gia tăng rủi ro sức khỏe cộng đồng và dịch bệnh

Nắng nóng gay gắt, ô nhiễm môi trường cùng dịch bệnh theo mùa đang tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Theo ghi nhận từ Bộ Y tế, số ca mắc bệnh hô hấp và sốt xuất huyết đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Sự thay đổi thất thường của thời tiết làm bùng phát nhiều đợt bệnh đường hô hấp, trong khi tình trạng lũ lụt tạo điều kiện cho muỗi, côn trùng cùng ký sinh trùng sinh sôi, đẩy nguy cơ mắc các bệnh lây truyền lên cao.

Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm, những đợt nắng nóng cực đoan còn kéo theo sự gia tăng của các vấn đề sức khỏe liên quan trực tiếp đến nhiệt độ như mất nước và đột quỵ nhiệt.

Tổn thất hạ tầng và cản trở tăng trưởng kinh tế

Không chỉ phá hủy tài sản và cơ sở hạ tầng, các hiện tượng thời tiết cực đoan còn trực tiếp kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế. Theo ước tính từ báo cáo của Ngân hàng Thế giới, bão lũ và hạn hán gây thiệt hại khoảng 3 - 5% GDP mỗi năm ở Việt Nam. Minh chứng rõ nhất là những cơn bão lớn xảy ra trong những năm gần đây đã làm hàng triệu người chịu ảnh hưởng, cùng mức thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng.

Trên khắp cả nước, kinh tế các vùng miền đều chịu tác động rõ rệt. Lũ lụt và hạn hán không chỉ phá hủy hạ tầng, mùa màng mà còn nhấn chìm nhà cửa, đất đai ở các vùng trũng, để lại tổn thất nặng nề.

Giải pháp đồng bộ ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu

Muốn bảo vệ tương lai bền vững cho thế hệ mai sau, cần cùng nhau hành động vì hành tinh ngay hôm nay. Trong đó, giảm phát thải và thích ứng với những thay đổi không thể tránh khỏi là yêu cầu cấp bách cho từng cá nhân, cộng đồng và mọi quốc gia.

Đẩy mạnh phát triển và chuyển dịch sang năng lượng tái tạo

Dù giúp cắt giảm căn cơ lượng khí nhà kính phát thải, việc phát triển năng lượng tái tạo vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, cùng với đó là đòi hỏi vốn đầu tư hạ tầng truyền tải ban đầu rất lớn.

Để giảm lượng phát thải khí nhà kính, việc thúc đẩy dùng nguồn năng lượng sạch như mặt trời và gió đang được triển khai mạnh mẽ. Chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 15-20% trong tổng sản lượng điện quốc gia vào năm 2030. Song song với định hướng này, hàng loạt dự án điện gió và điện mặt trời đã được đưa vào vận hành tại nhiều địa phương nhằm giúp giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu.

Giải pháp đồng bộ ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu

Hệ thống điện mặt trời và điện gió cung cấp năng lượng sạch · Pexels / Quang Nguyen Vinh

Phần lớn khí gây hiệu ứng nhà kính bắt nguồn từ nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ, đá phiến và khí đốt, do đó việc hạn chế tối đa các nguồn năng lượng này là yêu cầu cấp thiết. Thay vào đó, tập trung khai thác và sử dụng các dạng năng lượng thiên nhiên thân thiện với môi trường gồm gió, mặt trời hay thủy triều sẽ giúp hạn chế biến đổi khí hậu toàn cầu.

Nâng cao năng lực quản trị nguồn nước và hoàn thiện hạ tầng chống ngập

Cần quy hoạch hệ thống thoát nước cùng các công trình thủy lợi để quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã đầu tư hơn 10.000 tỷ đồng vào các dự án quản lý nguồn nước và chống ngập.

Việc xây dựng hệ thống đập, hồ chứa nước kết hợp các giải pháp tưới tiêu thông minh sẽ tạo nền tảng vững chắc nhằm hạn chế đáng kể tác động tiêu cực từ lũ lụt và hạn hán.

Tái cấu trúc mô hình nông nghiệp thích ứng bền vững

Nhằm giảm dùng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, việc đưa công nghệ vào nông nghiệp đang được thúc đẩy khi các địa phương bắt đầu nhân rộng mô hình nông nghiệp thông minh, thân thiện với môi trường. Việc kết hợp hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước, kỹ thuật canh tác bảo tồn và giống cây chịu hạn sẽ nâng cao năng suất cây trồng song song với bảo vệ môi trường.

Để thích ứng và giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu, người dân nên chủ động chuyển đổi mô hình trồng trọt, chăn nuôi phù hợp với điều kiện thực tế. Trong đó, cần ưu tiên các giống cây ngắn hạn để né mùa lũ lụt, kết hợp chọn lọc giống có khả năng chịu mặn và chịu phèn tốt.

Trường hợp chuyển đổi sang mô hình tưới nhỏ giọt tại các vùng đất khô hạn hoặc nhiễm mặn nhẹ, bạn nên lắp đặt thêm hệ thống lọc cặn đầu nguồn và đo độ dẫn điện (EC) của nước tưới. Bước xử lý này nhằm bảo vệ béc phun khỏi tắc nghẽn và kiểm soát chính xác độ mặn hấp thụ vào rễ.

Tái cấu trúc mô hình nông nghiệp thích ứng bền vững

Hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước trong nông nghiệp · Pexels / Anil Sharma

Tăng cường bảo vệ và phục hồi thảm phủ rừng tự nhiên

Được xem là “lá phổi xanh” của Trái Đất, rừng đảm nhận việc hấp thụ khí CO2 – nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính. Vì vậy, việc trồng rừng cần đi đôi với bảo vệ diện tích rừng hiện có nhằm bảo vệ môi trường và hạn chế biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu.

Kiểm soát rác thải và thúc đẩy lối sống tiêu dùng xanh

Bạn có thể áp dụng nguyên tắc 3R (Reduce - Reuse - Recycle) thông qua việc ngắt các thiết bị điện khi không dùng và thay thế đồ nhựa dùng một lần bằng bình nước cá nhân cùng túi vải. Đối với các lộ trình ngắn dưới 2km, bạn hãy ưu tiên đi bộ, đi xe đạp hoặc dùng phương tiện công cộng.

Song song với việc giảm bớt túi nilon và sản phẩm nhựa dùng một lần, bạn nên chủ động phân loại rác hữu cơ tại nguồn để tái chế thành phân bón. Thói quen đi lại bằng xe điện hoặc phương tiện giao thông công cộng cũng giúp cắt giảm lượng phát thải carbon gián tiếp ra môi trường.

Giáo dục và nâng cao nhận thức trách nhiệm cộng đồng

Việc đưa chương trình giáo dục môi trường vào hơn 1.000 trường học trên cả nước cùng các hoạt động truyền thông sâu rộng sẽ tạo nền tảng nâng cao ý thức xã hội. Khi nhận thức thay đổi, cộng đồng sẽ chủ động điều chỉnh hành vi và lối sống hằng ngày theo hướng xanh, bền vững hơn.

Nguyên nhân thúc đẩy biến đổi khí hậu

Về mặt khoa học, trạng thái của khí hậu có thể thay đổi và được xác định qua những biến động về đặc tính hoặc sự thay đổi giá trị trung bình kéo dài suốt hàng thập kỷ hay lâu hơn. Sự chuyển dịch này bắt nguồn từ các tiến trình nội tại trong tự nhiên, những tác động bên ngoài gồm phun trào núi lửa và điều biến chu kỳ mặt trời, kết hợp cùng tác động của con người làm biến đổi mục đích sử dụng đất và thành phần khí quyển.

Dù vậy, tốc độ biến đổi khí hậu ngày nay, nhất là sự nóng lên toàn cầu, đang diễn ra nhanh hơn nhiều so với các chu kỳ tự nhiên ở quá khứ. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ hoạt động của con người kể từ giữa thế kỷ 20.

Tác động từ các chu kỳ và biến động tự nhiên

Nhiều yếu tố tự nhiên góp phần tạo nên các dao động khí hậu theo chu kỳ qua nhiều giai đoạn.

Chẳng hạn, các kỷ băng hà kéo dài từ hàng chục đến hàng trăm nghìn năm chịu tác động từ chu kỳ Milankovitch. Ở cơ chế này, những biến động rất nhỏ trong quỹ đạo Trái Đất làm thay đổi lượng bức xạ mặt trời tiếp cận bề mặt, và chính sự dao động năng lượng tiếp nhận là nguyên nhân dẫn đến phần lớn các đợt biến thiên khí hậu nói trên.

Dù cường độ bức xạ mặt trời thay đổi có thể gây ảnh hưởng đến khí hậu, các dữ liệu quan sát gần đây xác nhận rằng hoạt động của mặt trời không thể giải thích cho xu thế nóng lên đang diễn ra hiện nay.

Bên cạnh đó, khí SO2 cùng tro bụi phát thải từ núi lửa có thể làm mát hành tinh tạm thời trong khoảng vài năm, nhưng không tạo ra xu hướng nóng lên trong dài hạn.

Phát thải khí nhà kính từ hoạt động nhân tạo

Hiện nay, các hoạt động nhân tạo đang thúc đẩy nồng độ khí thải gia tăng trên diện rộng.

Cụ thể, việc đốt các loại nhiên liệu hóa thạch gồm than, dầu và khí phục vụ công nghiệp, giao thông cùng năng lượng là nguyên nhân chủ đạo. Các hoạt động xây dựng, nông nghiệp, giao thông và công nghiệp đẩy nồng độ các KNK trong khí quyển (chủ yếu là CO2, CH4 và N2O) lên mức chưa từng thấy trong tối thiểu 800.000 năm qua. Do giữ lại nhiệt lượng, những chất khí này gây ra hiệu ứng nhà kính tăng cường và trực tiếp làm Trái Đất nóng lên.

Nguyên nhân thúc đẩy biến đổi khí hậu

Khói thải từ nhà máy công nghiệp gây hiệu ứng nhà kính · Pexels / Janusz Walczak

Ở khía cạnh nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi làm phát sinh khí CH4, còn các quy trình canh tác và sử dụng phân bón trực tiếp thải ra N2O.

Nhằm phục vụ đô thị hóa cùng nông nghiệp, hoạt động phá rừng làm suy giảm khả năng hấp thụ CO2 của các hệ sinh thái và làm biến đổi đặc tính phản xạ trên bề mặt Trái Đất.

Hiểu rõ các nguồn phát thải và cơ chế gây nóng lên toàn cầu là nền tảng để nhận diện sớm những biểu hiện của biến đổi khí hậu trong đời sống hằng ngày. Nắm bắt chính xác các nguyên nhân này giúp bạn đưa ra những lựa chọn thích ứng thực tế, từ chuyển đổi quy trình canh tác, điều chỉnh sử dụng tài nguyên cho đến chủ động bảo vệ sinh kế trước biến động môi trường.

Có thể bạn quan tâm

Biến đổi khí hậu là gì và tác động đến đời sống nhân loại

Biến đổi khí hậu là gì và tác động đến đời sống nhân loại

Khi thời tiết bất thường xuất hiện ở khắp nơi, khí hậu Trái Đất đang thay đổi nhanh chóng. Để nắm rõ biến đổi khí hậu là gì và mức độ ảnh hưởng hiện nay, bạn cần tìm hiểu bản chất khoa học của hiện tượng này, thực tế tại Việt Nam cùng toàn cầu và các giải pháp.

XEM THÊM

Thấu hiểu về ô nhiễm môi trường để hành động kịp thời

Thấu hiểu về ô nhiễm môi trường để hành động kịp thời

Ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách tại Việt Nam và trên thế giới, khi tình trạng suy thoái nguồn nước hoặc không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cùng đời sống thường ngày của con người. Hiểu đúng và đủ ngay từ bây giờ giúp bạn có cái nhìn toàn diện, từ đó thúc đẩy hành động thực tế nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm.

XEM THÊM

Năng lượng tái tạo là gì? Vai trò trong chuyển dịch xanh

Năng lượng tái tạo là gì? Vai trò trong chuyển dịch xanh

Năng lượng tái tạo cung cấp nguồn tài nguyên dồi dào cho các quốc gia mà không làm hại môi trường. Khi tài nguyên cạn dần và khí hậu biến đổi, việc hiểu rõ năng lượng tái tạo là gì cùng cách đưa vào thực tế sẽ tạo ra giải pháp cho tương lai lâu dài.

XEM THÊM

Net Zero Emission là gì? Làm thế nào để đạt được mục tiêu Net Zero?

Net Zero Emission là gì? Làm thế nào để đạt được mục tiêu Net Zero?

Net zero emission là một trong những mục tiêu mà các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hướng tới để đối phó với biến đổi khí hậu, giảm lượng phát thải xuống mức bằng 0.

XEM THÊM

Tìm hiểu thêm về Hóa Chất Dầu Khí Long Thành Chem

Liên hệ