Biến đổi khí hậu là gì và tác động đến đời sống nhân loại

Khi thời tiết bất thường xuất hiện ở khắp nơi, khí hậu Trái Đất đang thay đổi nhanh chóng. Để nắm rõ biến đổi khí hậu là gì và mức độ ảnh hưởng hiện nay, bạn cần tìm hiểu bản chất khoa học của hiện tượng này, thực tế tại Việt Nam cùng toàn cầu và các giải pháp.

Xuất bản: Chủ nhật, 8-30-2026 lúc 3:29:54

Biến đổi khí hậu là gì và tác động đến đời sống nhân loại
Biến đổi khí hậu là gì và tác động đến đời sống nhân loại. Ảnh: LTC.

Khái niệm biến đổi khí hậu là gì?

Chính các hoạt động của con người đã tác động lớn lên hệ thống khí quyển và thời tiết của Trái Đất, dẫn tới hiện tượng nóng lên toàn cầu (tiếng Anh: global warming) và biến đổi khí hậu (tiếng Anh: climate change).

Dù Trái Đất từng trải qua nhiều thời kỳ biến đổi khí hậu trong quá khứ, tốc độ thay đổi ở giai đoạn hiện nay lại diễn ra nhanh hơn bất kỳ mốc thời gian nào trước đây trong lịch sử hành tinh.

Định nghĩa theo khoa học quốc tế

Trên thực tế, thời tiết và khí hậu là hai khái niệm thường bị nhầm lẫn. Trong khi thời tiết chỉ những biến động ngắn hạn diễn ra trong ngày hoặc vài tuần, khí hậu lại phản ánh xu hướng và khuôn mẫu dài hạn được theo dõi qua nhiều thập kỷ.

Chẳng hạn, một đợt nắng nóng hay mưa lớn diễn ra trong vài ngày đến vài tuần chỉ được coi là thời tiết cực đoan. Biến đổi khí hậu chỉ được xác định khi các hiện tượng này lặp lại với tần suất, cường độ tăng dần và làm dịch chuyển giá trị nhiệt độ trung bình trong chu kỳ quan trắc tối thiểu 30 năm.

Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam

Nội dung tại Điều 13 Luật Khí tượng thủy văn 2015 quy định biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Tình trạng này biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan.

Ở góc độ nhân sinh, dân số tăng nhanh theo thời gian thúc đẩy hoạt động chặt phá rừng lấy đất ở cùng việc khai thác khoáng sản phục vụ đời sống. Khí thải carbondioxit sinh ra từ các hoạt động này làm tăng hiệu ứng nhà kính, khiến Trái Đất nóng lên và dẫn đến biến đổi khí hậu.

Khái niệm biến đổi khí hậu là gì?

Khói bụi thải ra từ các ống khói nhà máy công nghiệp lớn. · Pexels / Piotr Twardowski

Nguyên nhân biến đổi khí hậu là gì?

Để hiểu rõ nguyên nhân biến đổi khí hậu là gì, cần nhìn vào lượng khí thải gia tăng từ hoạt động nhân sinh đang tác động tiêu cực đến môi trường toàn cầu.

Vào năm 2018, 80% nguồn năng lượng của thế giới đến từ nhiên liệu hóa thạch, trong khi 20% còn lại thuộc về năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo.

Phát thải khí nhà kính

Có thể hình dung lớp khí nhà kính giữ nhiệt bao quanh Trái Đất như một chiếc chăn. Ở độ dày vừa phải, nó giúp duy trì sự sống, nhưng việc con người tạo thêm quá nhiều tầng chăn đang khiến hành tinh bị bức bí và nóng dần lên.

Dưới đây là các dữ liệu khoa học về phát thải khí nhà kính cùng cơ cấu những nguồn phát sinh:

  • Khai thác và đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, xăng, khí thiên nhiên) từ thời Cách mạng Công nghiệp đã đẩy lượng khí nhà kính trong khí quyển lên cao, gây mất cân bằng bức xạ; đến năm 2018, nồng độ CO2 và methane đã tăng lần lượt khoảng 45% và 160% so với mốc năm 1750.
  • Không khí bị giam trong lõi băng cho thấy mức CO2 này cao hơn nhiều bất kỳ mức nào khác trong 800.000 năm qua, trong khi các bằng chứng địa chất gián tiếp cũng chỉ ra giá trị CO2 không cao đến như vậy trong hàng triệu năm.
  • Con người phát thải ra toàn cầu lượng khí nhà kính tương đương 52 tỷ tấn CO2 trong năm 2018, bao gồm 72% CO2, 19% methane, 6% dinitơ monoxide và 3% các khí fluor.
  • Năng lượng phục vụ vận tải, sản xuất, tạo nhiệt và điện lực tạo ra phần lớn khí thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch, bên cạnh lượng CO2 khác từ phá rừng cùng các phản ứng hóa học công nghiệp làm xi măng, thép, nhôm, phân bón.
  • Khí thải methane phát sinh từ hoạt động chăn nuôi, bón phân, trồng lúa, bãi chôn lấp, xử lý nước thải, khai thác than và dầu khí; còn khí thải dinitơ monoxide sinh ra từ vi sinh phân hủy phân bón vô cơ lẫn hữu cơ.
  • Xét theo lĩnh vực sản xuất, cơ cấu nguồn phát thải khí nhà kính toàn cầu gồm: điện lực và nhiệt (25%), nông lâm nghiệp (24%), công nghiệp và sản xuất (21%), vận tải (14%), xây dựng (6%).
  • Đốt cháy than đá, dầu mỏ và khí đốt vẫn là nguồn tạo năng lượng sinh hoạt chính ở Việt Nam, cung cấp nhiệt điện cho cả hộ gia đình lẫn các khu công nghiệp.

Ở cấp độ đời sống, các thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng đóng góp một phần phát thải đáng kể từ 3 nguồn cá nhân lớn nhất:

  • Tiêu thụ điện sinh hoạt: Sử dụng máy lạnh, bình nóng lạnh từ lưới điện nhiệt điện than.
  • Phương tiện cá nhân: Di chuyển hàng ngày bằng xe máy, ô tô chạy xăng/dầu.
  • Rác thải thực phẩm: Thức ăn thừa phân hủy tại bãi chôn lấp sinh ra lượng lớn khí methane (CH4).

Phá rừng

Trên quy mô toàn cầu, rừng giữ vai trò sống còn trong việc cân bằng nồng độ carbon:

  • Dù việc phá rừng làm tăng khí thải nhà kính, bề mặt Trái Đất và đặc biệt là rừng vẫn đóng vai trò bể chứa carbon quan trọng; các cơ chế tự nhiên gồm quang hợp và cố định carbon trong đất giúp loại bỏ khoảng 29% khí thải CO2 toàn cầu mỗi năm để bù đắp lượng phát sinh do mất rừng.
  • Mật độ dân số tăng ở Việt Nam kéo theo nạn chặt phá rừng nhằm chuyển đổi đất sang phát triển đô thị, trồng cây nông nghiệp, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản; việc thu hẹp diện tích rừng - vốn là lá phổi hấp thụ Cacbondioxit và giữ carbon trong đất - giữa lúc lượng khí thải tăng cao đã dẫn tới hiệu ứng nhà kính.
  • Diện tích che phủ cây xanh mất đi trên toàn cầu hàng năm đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 2001, tương đương quy mô diện tích nước Ý.
  • Rừng bị hủy hoại bắt nguồn từ các nguyên nhân chính gồm: chuyển mục đích sử dụng đất dài hạn sang nông nghiệp để làm thịt bò và dầu cọ (27%), khai thác gỗ lấy lâm sản (26%), hoạt động du canh ngắn hạn (24%), và cháy rừng (23%).

Phá rừng

Một vùng đồi rừng bị chặt phá trơ trụi chỉ còn gốc cây khô. · Pexels / Nur Andi Ravsanjani Gusma

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Mở rộng đất nông nghiệp là động lực chính thúc đẩy con người thay đổi bề mặt Trái Đất, trong đó đất nông nghiệp hiện chiếm 34% diện tích, rừng chiếm 26%, và 30% thuộc về những vùng không thể cư ngụ như sông băng hay hoang mạc. Dù vậy, diện tích đất rừng nhiệt đới vẫn tiếp tục sụt giảm vì bị chuyển đổi thành đất trồng trọt.

Sự biến đổi bề mặt đất tác động đến nhiệt độ qua các cơ chế vật lý và hóa học, bao gồm việc thay đổi nồng độ khí nhà kính. Khi lớp phủ thực vật thay đổi, nhiệt lượng mất đi do bay hơi và lượng ánh sáng phản chiếu vào không gian sẽ biến đổi theo. Chẳng hạn, việc chuyển rừng cây tối màu thành đồng cỏ sáng màu hơn làm tăng lượng ánh sáng mặt trời bị phản chiếu ngược lại.

Bên cạnh đó, mô hình gió, sol khí và các hợp chất hóa học liên quan đến mây cũng bị xáo trộn do phá rừng, gây tác động trực tiếp đến nhiệt độ. Nếu tại miền nhiệt đới và ôn đới, hiệu ứng ròng khiến nhiệt độ ấm lên đáng kể thì ở các vùng gần cực, lớp tuyết thay thế rừng lại làm tăng suất phản chiếu, dẫn tới hiệu ứng làm mát tổng thể. Dù vậy, tính trên quy mô toàn cầu, suất phản chiếu bề mặt tăng lên làm nhiệt độ hạ xuống một chút.

Sol khí

Sinh ra từ ô nhiễm không khí, sol khí vừa gây tổn hại sức khỏe con người, vừa làm thay đổi khí hậu trên diện rộng. Trong giai đoạn 1961 đến 1990, lượng ánh sáng mặt trời tới bề mặt Trái Đất giảm dần, dẫn đến hiện tượng mờ đi toàn cầu. Tình trạng này xuất phát từ các hạt sol khí thải ra khi đốt nhiên liệu sinh học cùng nhiên liệu hóa thạch.

Nhờ quá trình giáng thủy rửa trôi, sol khí trong tầng đối lưu chỉ tồn tại khoảng một tuần, nhưng ở tầng bình lưu chúng có thể lưu lại vài năm. Kể từ năm 1990, lượng sol khí toàn cầu suy giảm, khiến tác dụng che đậy mức độ ấm lên do khí nhà kính không còn nhiều như trước.

Sol khí tác động trực tiếp bằng cách tán xạ và hấp thu bức xạ mặt trời, đồng thời tạo ra hiệu ứng gián tiếp lên quỹ bức xạ Trái Đất. Cụ thể, sol khí sulfate đóng vai trò làm hạt nhân ngưng tụ khiến mây tạo ra nhiều giọt nước nhỏ và đồng đều hơn. Dạng mây này làm giảm khả năng tạo hạt mưa, song lại phản chiếu bức xạ mặt trời hiệu quả hơn các đám mây ít giọt nhưng giọt to.

Dù phần lớn sol khí kìm hãm sự ấm lên bằng cách phản xạ ánh sáng, carbon đen trong bồ hóng bám vào tuyết hoặc băng lại làm tăng khả năng hấp thu ánh sáng mặt trời, đẩy nhanh tốc độ tan băng và dâng mực nước biển. Việc ngăn chặn bồ hóng carbon đen lắng đọng ở Bắc Cực có thể làm giảm mức ấm lên toàn cầu bớt 0,2 °C (0,36 °F) tính đến năm 2050.

Tác nhân tự nhiên

Vận hành theo các chu kỳ kéo dài hàng năm (như El Niño–Dao động phương Nam), hàng thập kỷ hoặc hàng thế kỷ, khí hậu Trái Đất còn chịu sự mất cân bằng năng lượng từ các yếu tố bên ngoài hệ thống. Những yếu tố này gồm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, độ sáng mặt trời, núi lửa phun trào hay biến động quỹ đạo quay của Trái Đất.

Dù mặt trời cung cấp nguồn năng lượng chính cho Trái Đất và mọi thay đổi từ nguồn chiếu này đều ảnh hưởng trực tiếp đến khí hậu, số liệu đo gián tiếp từ đầu những năm 1600 và đo trực tiếp qua vệ tinh cho thấy năng lượng Mặt trời tới Trái Đất không tăng. Việc tầng đối lưu ấm lên còn tầng bình lưu lạnh đi cho thấy khí nhà kính là nguyên nhân chính, bởi nếu nguyên nhân do Mặt trời thì cả hai tầng khí quyển này đều phải cùng ấm lên.

Xét trong thời kỳ công nghiệp, các đợt phun trào dữ dội là tác nhân tự nhiên lớn nhất. Khi sulfur dioxide bay đến tầng bình lưu, một phần ánh sáng mặt trời sẽ bị chặn lại trong vài năm, làm giảm nhiệt độ trong thời gian dài gấp đôi. Dù vậy, hoạt động núi lửa trong kỷ nguyên công nghiệp tác động không đáng kể đến xu hướng nhiệt chung, do lượng CO2 thải ra hiện nay chiếm chưa đầy 1% so với lượng phát thải từ con người.

Tác động của biến đổi khí hậu

Trên khắp hành tinh, các tác động do biến đổi khí hậu gây ra cho con người đều đã được ghi nhận. Dù vậy, mỗi vùng đại dương và lục địa lại chịu một ảnh hưởng khác nhau, trong đó rủi ro lớn nhất dồn vào các khu vực kém phát triển ở vĩ độ thấp. Nếu lượng khí nhà kính tiếp tục bị thải ra, Trái Đất sẽ càng nóng lên và hệ thống khí hậu sẽ biến đổi dài hạn, mang đến nguy cơ tác động nghiêm trọng, lan rộng và không thể đảo ngược cho con người cùng các hệ sinh thái.

Ngay cả khi con người làm giảm mức độ ấm lên toàn cầu thành công trong tương lai, một số tác động từ biến đổi khí hậu vẫn sẽ kéo dài qua hàng thế kỷ, chẳng hạn như nước biển dâng, đại dương ấm lên và hiện tượng acid hóa đại dương. Lượng phát thải CO2 của con người chính là yếu tố cốt lõi định hình quy mô biến đổi khí hậu trong quãng thời gian từ hàng thế kỷ đến hàng thiên niên kỷ. Do đó, mực nước biển vẫn tiếp tục dâng trong nhiều thế kỷ tới, với mức tăng ước tính 2,3 m cho mỗi 1 °C nhiệt độ tăng thêm sau 2000 năm.

Môi trường tự nhiên

Góp phần trực tiếp làm mực nước biển dâng lên là sự tan chảy của các phiến băng tại Greenland, châu Nam Cực cùng các sông băng. Trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2017, tốc độ dâng tăng dần với mức trung bình 3,1 ± 0,3 mm mỗi năm. Theo dự báo từ IPCC, kịch bản phát thải rất nhiều có thể khiến mực nước biển dâng từ 61–110 cm vào cuối thế kỷ 21. Hiện tượng nước biển ấm lên cũng đang bào mòn và đe dọa tách rời cửa sông băng ở châu Nam Cực, khiến các phiến băng dễ tan nhanh; nếu mức phát thải duy trì ở mức cao, mực nước biển có khả năng bị đẩy dâng 2 mét vào năm 2100.

Tác động của biến đổi khí hậu

Khối băng trôi khổng lồ đang tan chảy giữa đại dương. · Pexels / Gaspar Zaldo

Không dừng lại ở mực nước, lượng CO2 trong khí quyển tăng cao còn làm thay đổi tính chất hóa học của nước biển khi đại dương hấp thụ thêm nhiều CO2 hòa tan, dẫn đến việc đại dương bị acid hóa. Về mặt sinh thái, nước ấm giữ được ít oxy hơn khiến nồng độ oxy sụt giảm. Nước ấm cũng kích thích tảo nở hoa, kết hợp cùng hàm lượng CO2 cao, hiện tượng khử oxy đại dương và hiện tượng phú dưỡng làm các vùng chết thiếu oxy lan rộng. Do tốc độ hấp thu CO2 của biển diễn ra chậm, hiện tượng acid hóa đại dương sẽ còn tiếp diễn suốt hàng trăm đến hàng ngàn năm.

Khi nhiệt độ càng tăng cao, nguy cơ chạm tới các điểm tới hạn càng lớn. Điểm tới hạn là ngưỡng mà khi vượt qua, những tác động nhất định sẽ xảy ra dù nhiệt độ có hạ xuống sau đó. Chẳng hạn, mức tăng nhiệt 1,5 đến 2,0 °C (2,7 đến 3,6 °F) có thể làm tan chảy các khối băng và dẫn tới nguy cơ sụp đổ phiến băng tại Greenland và Tây Nam Cực, dù thời gian cụ thể chưa rõ ràng và phụ thuộc vào mức độ ấm lên sau này. Ngoài ra, một số biến đổi quy mô lớn có thể diễn ra nhanh chóng; nếu Hoàn lưu Đảo lộn Kinh tuyến Đại Tây Dương sụp đổ, sự kiện này sẽ gây ra những biến động khí hậu lớn khắp Bắc Đại Tây Dương, châu Âu và Bắc Mỹ.

Đa dạng sinh học

Đối với hệ sinh thái và thế giới sinh vật, biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động nghiêm trọng:

  • Nhiệt độ tăng gần đây đã đẩy nhiều loài sinh vật trên cạn và nước ngọt phải di chuyển về phía các cực hoặc lên các vùng cao hơn. Tuy đại dương ấm lên chậm hơn đất liền, các loài động thực vật biển lại di cư về vùng cực nhanh hơn những loài trên cạn. Tốc độ biến đổi môi trường quá nhanh khiến nhiều loài không kịp thích nghi và đứng trước nguy cơ biến mất.
  • Sóng nhiệt kéo dài gây ra hiện tượng tẩy trắng trên diện rộng, hủy hoại Great Barrier Reef và đe dọa các rạn san hô trên toàn cầu; hiện tượng acid hóa đại dương cũng tác động xấu đến san hô cùng các loài có vỏ và khung xương. Tình trạng phú dưỡng kết hợp với biến đổi khí hậu thúc đẩy tảo độc nở hoa gây thiếu oxy, làm đảo lộn chuỗi thức ăn và giết chết hàng loạt sinh vật biển. Ngoài ra, việc gần một nửa diện tích đất ngập nước bị mất đi do biến đổi khí hậu và hoạt động nhân sinh đã khiến các hệ sinh thái ven bờ trở nên đặc biệt dễ tổn thương.
  • Những mùa đông bớt lạnh tạo điều kiện cho bọ thông sống sót qua mùa rét và tàn phá nhiều mảng rừng lớn. Nhiều loài động vật Bắc Cực đang mất dần chỗ dựa sinh tồn khi băng biển tan dần vì nhiệt độ tăng. Hiện tượng ấm lên cũng khiến các đới khí hậu khô cằn lan rộng, tiêu biểu là sự mở rộng sa mạc tại các vùng cận nhiệt đới.

An ninh lương thực

Ghi nhận từ giai đoạn 1981–2010 cho thấy sản lượng ngô, lúa mì và đậu nành toàn cầu đã sụt giảm do tác động từ biến đổi khí hậu đối với an ninh lương thực. Khi nhiệt độ Trái Đất không ngừng tăng, xu hướng giảm này ở các loại cây trồng chính sẽ còn tiếp tục. Trong đó, các vùng ở vĩ độ thấp dễ chịu thiệt hại, còn những khu vực phía bắc có thể gặp tác động tích cực hoặc tiêu cực. Việc nhiệt độ môi trường quá nóng bức khiến vật nuôi và cây trồng không kịp thích nghi, gây tổn thất lớn cho sản xuất lương thực và nông sản.

Từ những biến động trên, 183 triệu người khắp thế giới, nhất là nhóm người có thu nhập thấp, đứng trước nguy cơ thiếu ăn. Các đợt hạn hán kéo dài đẩy nhiều người vào thảm cảnh thiếu đói, trong khi nước biển dâng cùng xâm nhập mặn đã lên đến mức buộc toàn bộ nhiều cộng đồng phải chuyển chỗ ở. Song song đó, nguồn lợi cá ở các đại dương giảm bớt làm giảm sản lượng đánh bắt, và chỉ có trữ lượng cá tại các vùng cực cho thấy khả năng tăng lên.

An ninh lương thực

Mặt đất nứt nẻ khô cằn do hạn hán kéo dài. · Pexels / Saravanan Narayanan

Mặt khác, tình trạng thiếu nước do biến đổi khí hậu đang đe dọa các đảo nhỏ, các khu vực vốn khô cằn và những nơi sống nhờ nguồn nước từ sông băng. Mực nước biển dâng cao cũng gây nguy cơ mất nguồn nước ngọt tại các dải đồng bằng ven bờ.

Sức khỏe con người

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe nhân loại trong thế kỷ 21:

  • Theo ước tính từ WHO trong giai đoạn 2030–2050, nắng nóng gay gắt sẽ làm tăng thêm khoảng 250.000 ca tử vong ở người cao tuổi mỗi năm, đồng thời làm gia tăng tình trạng thiếu đói ở trẻ em cùng các bệnh tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết; đến năm 2050, việc suy giảm số lượng và chất lượng thực phẩm dự kiến khiến hơn 500.000 người lớn thiệt mạng mỗi năm.
  • Nền nhiệt ấm lên tạo điều kiện bùng phát các bệnh lây qua đường nước, bệnh nhiễm trùng, viêm não Nhật Bản, sốt rét và sốt xuất huyết.
  • Nhiệt độ toàn cầu tăng nhanh khiến thời tiết trở nên khắc nghiệt với những mức nhiệt kỷ lục qua từng năm cùng các đợt nắng nóng trên 40 độ C vượt sức chịu đựng của cơ thể, đồng thời làm hạn hán và cháy rừng xảy ra thường xuyên hơn; nền nhiệt cao này còn gây hại đến hệ miễn nhiễm, tạo stress và làm phát sinh các bệnh tim mạch, hô hấp và thần kinh.

Kinh tế và di cư

Diễn ra với quy mô ngày càng lớn là các hệ lụy kinh tế cùng làn sóng dịch chuyển dân cư:

  • Thiệt hại kinh tế từ biến đổi khí hậu vốn bị đánh giá thấp và có thể chuyển biến nghiêm trọng khi các rủi ro đuôi tai hại có khả năng xảy ra cao; sự chênh lệch kinh tế toàn cầu dường như đang bị nới rộng và dự kiến còn tiếp diễn, trong đó Đông Nam Á và châu Phi hạ Sahara, những nơi vốn nghèo khó, phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất; Ngân hàng Thế giới tính toán đến năm 2030 sẽ có hơn 120 triệu người rơi vào cảnh nghèo khổ vì biến đổi khí hậu.
  • Hiện tượng ngập lụt gia tăng và nguy cơ đất đai bị nhấn chìm vĩnh viễn do nước biển dâng đang đe dọa các vùng ven biển trũng thấp cùng các hòn đảo nhỏ, thậm chí có thể biến người dân ở những đảo quốc như Tuvalu và Maldives thành người vô quốc tịch.
  • Theo kịch bản xấu nhất từ các mô hình dự báo, gần một phần ba dân số thế giới sẽ phải sống trong điều kiện nhiệt độ cực kỳ nóng bức không thể cư ngụ, giống với khí hậu Sahara ngày nay; số người phải di dời vì thiên tai thời tiết dự kiến sẽ tăng trong tương lai do các hiện tượng cực đoan, nước biển dâng và tranh chấp tài nguyên xuất hiện dày hơn, trong khi những nhóm người thiếu tiềm lực kinh tế sẽ không thể chuyển đi, buộc phải ở lại đối mặt với hoàn cảnh rủi ro và khốn khó.

Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang bộc lộ ngày một rõ rệt, tạo nên một thực trạng đáng lo ngại khi đời sống con người chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

Điều này thể hiện qua việc thời tiết biến đổi đột ngột cùng các đợt thiên tai gia tăng, điển hình như hạn hán kéo dài và lũ lụt, phản ánh đúng thực trạng biến đổi khí hậu ở nước ta. Những biến động khí hậu đó mang lại hậu quả nặng nề cho môi trường sống, con người lẫn động vật, song song với việc đe dọa trực tiếp nền kinh tế và đời sống xã hội.

Diễn biến nhiệt độ cực đoan

Dễ nhận thấy nhiệt độ trung bình tại Việt Nam liên tục tăng trong các năm gần đây, khi một số địa phương ghi nhận mức nhiệt tăng kỷ lục ở cả mùa đông lẫn mùa hè.

Để theo dõi sát diễn biến nhiệt độ và thời tiết, bạn có thể sử dụng các kênh sau:

  • Cổng thông tin Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia (`nchmf.gov.vn`) để cập nhật các đợt nắng nóng kỷ lục.
  • Ứng dụng thời tiết tích hợp chỉ số UV Index và mức nhiệt cảm nhận thực tế (RealFeel) để chủ động thời gian ra ngoài.

Tình trạng nước biển dâng

Là quốc gia ven biển, Việt Nam ghi nhận mực nước biển dâng trung bình 03-05mm mỗi năm — tốc độ nhanh hơn mức trung bình toàn cầu và là thực trạng rất đáng lo ngại.

Tốc độ dâng mang lại nguy cơ ngập lụt ven biển, ngập mặn và mất nguồn nước ngọt tại các đồng bằng ven biển, đe dọa trực tiếp vùng đất thấp và hải đảo.

Kịch bản biến đổi khí hậu năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ rõ, khi mực nước biển dâng 80cm, khoảng 31,94% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập, trong đó Kiên Giang chịu ngập 66,16% và Cà Mau chịu ngập 64,42%. Nếu mực nước dâng tới mốc 100cm, diện tích ngập của cả vùng đồng bằng lên 47,29%, riêng Cà Mau chịu ngập khoảng 79,62% diện tích. Bên cạnh đó, tình trạng xâm nhập mặn và ngập úng trở nên phức tạp hơn khi chịu tác động cộng hưởng từ sụt lún, nâng hạ địa chất, triều cường cùng nước dâng do bão.

Tình trạng nước biển dâng

Khu dân cư vùng sông nước bị ngập sâu do triều cường dâng cao. · Pexels / Kushie In Vietnam

Gia tăng tần suất thiên tai

Biểu hiện rõ nhất là các đợt thiên tai gồm bão, hạn hán và lũ lụt xuất hiện tại Việt Nam dày hơn trong những năm qua. Không dừng lại ở đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan gồm bão, lũ lụt, hạn hán, động đất và sóng thần còn xảy ra với cường độ mạnh và tần suất dày đặc hơn.

Chuỗi thiên tai liên tiếp này gây tổn thất về người lẫn thiệt hại kinh tế cho đất nước. Đáng chú ý, lũ lụt còn cản trở trực tiếp hoạt động vận chuyển hàng hóa và xuất nhập khẩu.

Suy thoái hệ sinh thái trong nước

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng cao cùng thiên tai dồn dập đang làm xáo trộn các vùng đầm lầy, rừng tự nhiên và hệ sinh thái biển.

Khi môi trường sống biến đổi, nhiều loài sinh vật không thể thích nghi kịp và đứng trước nguy cơ biến mất, đẩy hệ động thực vật vào bờ vực suy giảm và tuyệt chủng.

Giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu

Cần triển khai các giải pháp đồng bộ để khắc phục biến đổi khí hậu trước những thực trạng và hậu quả đang diễn ra tại Việt Nam.

Để giữ mức ấm lên toàn cầu dưới ngưỡng 1,5 °C với xác suất thành công cao, lượng khí thải nhà kính toàn cầu cần chạm mức 0 ròng vào năm 2050, còn nếu nhắm tới ngưỡng 2 °C thì phải đạt mốc phát thải 0 ròng vào năm 2070. Nhằm đạt được các mục tiêu nhiệt độ toàn cầu này, các ngành công nghiệp, xây dựng, vận tải, đất đai và năng lượng cần có thay đổi sâu rộng và có tính hệ thống trên quy mô lớn chưa từng có cùng lúc.

Giảm thiểu phát thải nguồn năng lượng

Dù năng lượng tái tạo có thể giảm triệt để lượng khí nhà kính phát thải, phương án này lại đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Việc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện tự nhiên cũng tạo áp lực nâng cấp toàn bộ hạ tầng truyền tải cùng hệ thống lưu trữ điện.

Vì vậy, quá trình dịch chuyển từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch tập trung vào các định hướng cụ thể:

  • Hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ và khí đốt) đưa một lượng khí thải lớn vào bầu khí quyển, vì vậy cần giảm việc dùng các nguồn năng lượng này. Nhằm ngăn chặn các mức độ biến đổi khí hậu thảm khốc, sản xuất và tiêu thụ mọi nhiên liệu hóa thạch cần cắt giảm ít nhất 30% trước năm 2030. Đến năm 2050, việc đầu tư vào than đá sẽ chấm dứt và than đá bị loại bỏ dần.
  • Nguồn lực cần hướng vào nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng xanh thân thiện môi trường từ gió, sóng và mặt trời do thiên nhiên ban tặng. Việc bổ sung công suất phát điện mới bằng cách dùng điện mặt trời và gió trên bờ đạt mức tiết kiệm chi phí nhất tại đa số các nước. Năm 2019, năng lượng gió và mặt trời chiếm đa số trong 75% tổng công suất phát điện mới lắp đặt trên thế giới. Nhằm trung hòa lượng carbon vào năm 2050, năng lượng tái tạo sẽ trở thành nguồn sản xuất điện chính, chiếm từ 85% trở lên trong một số kịch bản.
  • Biến động theo mùa cùng tính ngắt quãng là rào cản lớn nhất của năng lượng mặt trời và gió. Các nhà máy điện thông thường cùng đập nước kèm hồ chứa thường được huy động khi sản lượng từ hai nguồn này xuống thấp. Ngoài ra, việc dùng tiết kiệm điện, xây dựng kho lưu trữ và phát triển đường dây truyền tải điện khoảng cách xa cũng hỗ trợ điều hòa nguồn cấp không đều của năng lượng tái tạo trên những vùng địa lý rộng hơn.

Giảm thiểu phát thải nguồn năng lượng

Các tuabin gió khổng lồ hoạt động trên đồi cỏ xanh. · Pexels / Quang Nguyen Vinh

Tối ưu hóa hiệu quả năng lượng

Hạ bớt nhu cầu sử dụng năng lượng vừa giúp giảm phát thải trực tiếp, vừa mang lại độ linh hoạt để phát triển hệ thống ít carbon. Hướng đi này còn hỗ trợ quản lý lưới điện và kìm hãm việc xây mới các công trình đòi hỏi nhiều carbon.

Việc cắt giảm nhu cầu tiêu thụ năng lượng được triển khai qua các biện pháp cụ thể tùy từng lĩnh vực:

  • Tiết kiệm điện, sử dụng phương tiện giao thông công cộng, chọn thiết bị tiêu thụ ít điện và giữ gìn nguồn nước sạch. Ngành vận tải có thể tạo lợi nhuận bằng cách đưa hàng hóa cùng hành khách sang các loại hình di chuyển hiệu quả hơn như xe buýt, tàu hỏa, hoặc đẩy mạnh dùng xe điện.
  • Các chiến lược giảm nhu cầu năng lượng trong công nghiệp gồm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống sưởi và động cơ, tạo ra các sản phẩm tiết kiệm năng lượng và kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm.
  • Ngành xây dựng tập trung thiết kế các công trình mới đạt chuẩn cao hơn và lắp thêm công nghệ tiết kiệm năng lượng cho các tòa nhà đang dùng. Việc điện khí hóa các tòa nhà được đẩy mạnh qua việc lắp đặt các thiết bị có hiệu suất vượt trội so với nhiên liệu hóa thạch như máy bơm nhiệt.

Ở quy mô hộ gia đình, bạn có thể giảm phát thải tại nhà theo 3 bước:

  1. Đặt nhiệt độ điều hòa từ 26°C trở lên kết hợp quạt gió để giảm tải máy nén.
  2. Thay thế 100% đèn chiếu sáng trong nhà sang bóng LED tiết kiệm điện.
  3. Rút phích cắm các thiết bị điện tử khi không sử dụng để triệt tiêu dòng điện chờ (phantom load).

Cô lập carbon

Để loại bỏ khí nhà kính khỏi khí quyển, hiệu quả phụ thuộc lớn vào sự kết hợp giữa công nghệ thu giữ nhân tạo và khả năng hấp thụ của các bể chứa carbon tự nhiên:

  • Các hệ sinh thái rừng, vùng biển và đầm lầy cần được phục hồi thông qua các khu bảo tồn và phương thức quản lý rừng bền vững. Những khu vực này giữ vai trò quan trọng cho sự sống của các sinh vật, bảo vệ đa dạng sinh học, giữ lại carbon trong đất và giảm biến đổi khí hậu.
  • Trồng mới và tái trồng rừng là hai cách làm phổ biến, tuy nhiên các hoạt động này làm nảy sinh lo ngại về an ninh lương thực. Các giải pháp như cô lập carbon trong đất và carbon duyên hải hiện chưa được biết đến rộng rãi.
  • Lượng CO2 dư thừa tiếp tục sinh ra có thể được gom lại và đem đi lưu trữ thay vì xả ra ngoài không khí. Dù công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon (CCS) hiện tại còn đắt đỏ và chưa phổ biến, nó có thể đóng góp lớn vào việc hạn chế CO2 vào giữa thế kỷ này. Khi ghép nối CCS với sản xuất năng lượng sinh học (BECCS), hệ thống có thể tạo ra mức phát thải ròng âm do lượng khí nhà kính thải vào khí quyển thấp hơn lượng được lưu trữ trong nhiên liệu sinh học. Mặc dù vậy, nguy cơ tác động xấu đến môi trường và sự phụ thuộc quá mức vào các công nghệ này vẫn là vấn đề đáng lo.

Cô lập carbon

Người dân cùng nhau trồng cây non để phủ xanh đất trống. · Pexels / Thirdman

Nâng cao năng lực thích ứng

Có hai hướng tiếp cận khác nhau về mục tiêu: giảm thiểu nhắm vào nguyên nhân gốc rễ bằng cách hạ bớt khí nhà kính phát thải, còn thích ứng là điều chỉnh cách sống để giảm nhẹ rủi ro và sống an toàn trước các tác động không thể tránh.

Các biện pháp củng cố khả năng chống chịu trước thiên tai bao gồm những nội dung cụ thể sau:

  • Những hệ thống cảnh báo sớm thiên tai bảo vệ tài sản cùng sinh mạng con người, mang lại lợi ích kinh tế gấp tới 10 lần chi phí đầu tư ban đầu.
  • Một số quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu bằng cách tăng cường bảo vệ đường bờ biển, nâng cấp năng lực quản lý thiên tai và lai tạo giống cây trồng thích ứng tốt. Trước nguy cơ nước biển dâng, các cách xử lý gồm tránh xa khu vực nguy hiểm, làm quen với tình trạng ngập lụt gia tăng, xây công trình bảo vệ hoặc thực hiện di dời khi cần.
  • Ngành nông nghiệp áp dụng các giải pháp như đổi chế độ ăn phù hợp, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, chống xói mòn đất và chọn tạo giống biến đổi gen để thích nghi thời tiết. Dù giải pháp bảo hiểm giúp san sẻ rủi ro, người thu nhập thấp lại khó tiếp cận dịch vụ này. Giáo dục, hoạt động di cư và các trạm cảnh báo sớm giúp con người giảm bớt tác động từ biến đổi khí hậu.

Tài chính khí hậu

Dù nhiều quốc gia đã đưa các chính sách thích ứng vào thực tế, lượng kinh phí hiện có vẫn còn cách xa nhu cầu. Để các phương án thích ứng có thể triển khai, sự trợ giúp về tài chính và công nghệ từ những nước phát triển là điều kiện cần thiết.

Huy động vai trò phụ nữ và cộng đồng

Cần đẩy mạnh giáo dục và nâng cao hiểu biết về tác động của biến đổi khí hậu đến tương lai. Khi từng người dân cùng toàn cộng đồng nâng cao nhận thức và được khuyến khích giữ gìn môi trường trong sinh hoạt thường ngày, việc ứng phó sẽ đạt kết quả tốt.

Chính sách và hợp tác quốc tế

Vì biến đổi khí hậu là vấn đề chung của toàn cầu chứ không riêng Việt Nam, các quốc gia cần chung tay hợp tác cắt giảm khí nhà kính.

Lượng khí thải gây biến đổi khí hậu xuất phát từ khắp nơi trên thế giới và tác động đến tất cả mọi người, dù trên thực tế một số quốc gia thải ra lượng khí lớn hơn nhiều so với phần còn lại. Do đó, toàn cầu cần chung tay hành động, nhưng các quốc gia và nhóm người gây phát thải nhiều hơn phải chịu trách nhiệm hành động trước.

Công cụ định giá carbon

Để giảm lượng khí nhà kính, hệ thống chính sách, luật lệ và quy định được áp dụng qua các biện pháp sau:

  • Thuế carbon và thị trường giao dịch hạn ngạch phát thải là hai công cụ định giá carbon chính. Tính đến năm 2019, khoảng 20% lượng khí thải nhà kính trên thế giới đã chịu sự điều chỉnh của các cơ chế định giá này.
  • Trợ cấp trực tiếp cho nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu năm 2017 ở mức 319 tỷ đôla, và lên tới 5,2 ngàn tỷ đô nếu cộng thêm các chi phí gián tiếp từ ô nhiễm không khí. Việc xóa bỏ các khoản trợ cấp này có thể giúp giảm 28% lượng carbon phát thải trên toàn cầu và tránh được 46% số ca tử vong vì ô nhiễm không khí, đồng thời mở ra nguồn kinh phí hỗ trợ quá trình chuyển dịch sang năng lượng sạch.
  • Những quy định mang tính bắt buộc gồm có tiêu chuẩn kiểm soát ô nhiễm không khí trong ngành công nghiệp nặng, tiêu chuẩn nhiên liệu tái tạo và định mức tiêu hao nhiên liệu của phương tiện giao thông. Một số nước áp dụng tiêu chuẩn danh mục năng lượng tái tạo bắt buộc để tăng tỷ trọng điện sản xuất từ các nguồn sạch.

Các điều ước quốc tế về khí hậu

Củng cố khuôn khổ hợp tác đa phương tạo cơ sở sử dụng các điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc sau:

  • Hầu hết các quốc gia trên thế giới tham gia Công ước Khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) năm 1994. Công ước hướng đến việc giữ nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức ổn định để các hệ sinh thái thích ứng tự nhiên, bảo đảm sản xuất lương thực và duy trì phát triển kinh tế. Tuy lượng khí thải toàn cầu vẫn tăng sau khi ký kết do UNFCCC không trực tiếp giới hạn mức phát thải, văn bản này đã tạo nền tảng cho các nghị định thư thực thi sau đó.
  • Ra đời năm 1997 để mở rộng UNFCCC, Nghị định thư Kyoto đặt ra các cam kết pháp lý ràng buộc phần lớn các nước phát triển phải cắt giảm lượng phát thải. Tại các vòng đàm phán, nhóm G77 đại diện cho các nước đang phát triển đã yêu cầu các nước phát triển đi đầu trong việc giảm phát thải, do nhóm nước này là nguồn tích lũy khí nhà kính chính trong lịch sử, trong khi mức phát thải bình quân đầu người của các nước đang phát triển còn thấp và cần tăng để phục vụ phát triển. Đến năm 2009, Hiệp ước Copenhagen đề ra mục tiêu chuyển 100 tỷ đôla mỗi năm cho các nước đang phát triển đến năm 2020 nhằm hỗ trợ công tác giảm thiểu cùng thích ứng, song song với đề xuất thành lập Quỹ Khí hậu Xanh.
  • Hiệp định Paris 2015 ghi nhận thỏa thuận giữa các quốc gia về việc giữ mức tăng nhiệt độ Trái Đất ở mức dưới 2 °C và hướng tới mốc 1,5 °C qua các biện pháp giảm phát thải. Tính đến năm 2021, có 194 quốc gia cùng Liên minh châu Âu ký kết và 188 quốc gia cùng Liên minh châu Âu phê chuẩn hoặc chấp thuận văn kiện. Thay vì áp đặt một chỉ tiêu phát thải bắt buộc, Hiệp định Paris yêu cầu các nước tự đề ra các mục tiêu tham vọng hơn theo định kỳ và thực hiện đánh giá lại sau mỗi 5 năm.
  • Nghị định thư Montreal 1987 với mục đích ban đầu là ngăn chặn các chất làm suy giảm tầng ozone được đánh giá kìm chế khí nhà kính tốt hơn cả Nghị định thư Kyoto. Đến năm 2016, Tu chính Kigali bổ sung việc giảm các chất hydrofluorocarbon — nhóm khí nhà kính dùng thay thế cho các chất phá hủy ozone cũ — giúp Nghị định thư Montreal tăng thêm hiệu lực trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.

Cơ chế phản hồi và các kịch bản khí hậu tương lai

Mức độ ấm lên trong tương lai phụ thuộc vào hai yếu tố chính: tổng lượng khí nhà kính phát thải cùng cường độ của các phản hồi khí hậu. Để ước định những phản hồi này, nhiều tổ chức khoa học đã phát triển các mô hình khí hậu khác nhau.

Những mô hình này phản ánh các quá trình vật lý, hóa học và sinh học chi phối hệ thống khí hậu. Bằng việc tính đến yếu tố núi lửa, thay đổi trong hoạt động của Mặt trời cùng thay đổi trong quỹ đạo Trái Đất, các mô hình cố gắng mô phỏng và dự đoán chu kỳ mùa thường niên, hoàn lưu đại dương cũng như các dòng chảy carbon giữa bề mặt đất và khí quyển.

Bên cạnh đó, một nhóm mô hình khí hậu khác bổ sung thêm các yếu tố xã hội vào mô hình khí hậu tự nhiên đơn giản, tái hiện cách dân số, tăng trưởng kinh tế cùng việc sử dụng năng lượng tác động qua lại với khí hậu tự nhiên. Từ đó, chúng xây dựng các kịch bản về biến động phát thải khí nhà kính tương lai, rồi chuyển kết quả đầu ra làm đầu vào cho mô hình khí hậu tự nhiên nhằm đưa ra dự báo biến đổi khí hậu.

Vòng phản hồi khí hậu

Khi chiếu vào tảng băng trắng, ánh nắng bị phản xạ ngược trở lại không gian. Nhưng nếu tảng băng tan, vùng nước sẫm màu lộ ra bên dưới hấp thụ nhiệt nhiều hơn, khiến nền nhiệt tiếp tục tăng và các tảng băng tiếp theo tan nhanh hơn.

Phản hồi là cơ chế điều chỉnh phản ứng của hệ thống khí hậu trước tác động ban đầu, trong đó phản hồi tự củng cố làm tăng mức độ tác động, còn phản hồi cân bằng giảm thiểu mức độ tác động. Các phản hồi củng cố chính gồm có phản hồi băng–suất phản chiếu, phản hồi hơi nước và có thể là hiệu ứng ròng của mây. Ngược lại, khi nhiệt độ bề mặt tăng, nhiệt thoát vào không gian dưới dạng bức xạ hồng ngoại (làm mát bức xạ) là phản hồi cân bằng chính.

Khi nhiệt độ ấm hơn, khả năng lưu giữ ẩm của không khí tăng lên. Khí quyển ấm lên ban đầu do phát thải khí nhà kính khiến lượng hơi nước lưu giữ tăng lên, làm Trái Đất càng ấm thêm vì hơi nước vốn là một loại khí nhà kính mạnh. Nếu mây che phủ tăng lên, ánh sáng mặt trời phản chiếu vào không gian nhiều hơn giúp hành tinh mát đi; nhưng khi mây mỏng và ở vị trí cao hơn, mây lại giữ nhiệt từ dưới bề mặt phản xạ ngược trở lại, khiến hành tinh ấm dần. Trong thời đại công nghiệp, phản hồi mây ròng có khả năng thúc đẩy nhiệt độ gia tăng.

Khả năng phản chiếu bức xạ mặt trời chiếu tới của băng biển đạt 50% đến 70%, trong khi bề mặt đại dương tối màu chỉ phản chiếu 6%. Hiện tượng băng biển tan là một phản hồi tự củng cố: khi tuyết phủ và băng biển ở vùng Bắc Cực thu hẹp diện tích, suất phản chiếu của bề mặt Trái Đất giảm, năng lượng Mặt trời bị hấp thu nhiều hơn tại các khu vực này và tạo hiệu ứng khuếch đại sự thay đổi nhiệt độ ở Bắc Cực.

Bên cạnh phản hồi nhiệt độ, chu trình carbon ghi nhận các phản hồi riêng, chẳng hạn như hiệu ứng CO2 thúc đẩy thực vật sinh trưởng. Sự thiếu chắc chắn về các phản hồi này là nguyên nhân chính khiến các mô hình khí hậu dự đoán mức độ ấm lên khác nhau dù chạy cùng một lượng phát thải. Hiện tượng khuếch đại vùng Bắc Cực làm tan tầng băng giá vĩnh cửu, đưa thêm CO2 và methane vào khí quyển. Đáng chú ý, biến đổi khí hậu có thể làm tăng lượng phát thải methane từ các hệ nước mặn, nước ngọt, đất ngập nước cùng tầng băng giá vĩnh cửu.

Kịch bản phát thải và quỹ carbon

Nhằm đáp ứng các mục tiêu khí hậu toàn cầu, các kịch bản nồng độ đại diện và dự toán quỹ carbon được xác định cụ thể:

  • Mô hình khí hậu sử dụng các Đường Nồng độ Đại diện (RCP) làm dữ liệu đầu vào: kịch bản giảm thiểu nghiêm ngặt (RCP 2.6), hai kịch bản trung gian (RCP 4.5 và RCP 6.0), cùng kịch bản phát thải khí nhà kính rất nhiều (RCP 8.5).
  • Báo cáo Đánh giá lần thứ 5 của IPCC tổng hợp các dự báo mô hình khí hậu cho thấy trong thế kỷ 21, nhiệt độ bề mặt toàn cầu có xu hướng tăng 0,3 đến 1,7 °C (0,5 đến 3,1 °F) ở kịch bản vừa phải, hoặc tăng gần 2,6 đến 4,8 °C (4,7 đến 8,6 °F) ở kịch bản tột cùng phụ thuộc vào các hiệu ứng phản hồi khí hậu cùng mức xả thải khí nhà kính trong tương lai; đến năm 2100, nồng độ CO2 khí quyển có thể ở mức thấp 380 ppm hoặc lên cao tới 1400 ppm tùy từng kịch bản giảm thiểu và kinh tế xã hội.
  • Việc mô hình hóa độ nhạy cảm của khí hậu với khí nhà kính và chu kỳ carbon giúp xác định quỹ khí thải carbon còn dư. Theo IPCC, cơ hội giữ mức ấm lên toàn cầu dưới ngưỡng 1,5 °C (2,7 °F) đạt mức 2/3 nếu lượng phát thải sau năm 2018 không vượt qua 420 hoặc 570 giga-tấn CO2 (tùy vào cách xác định chính xác nhiệt độ toàn cầu), tương đương khoảng 10 đến 13 năm phát thải ở mức hiện tại. Quỹ carbon này vẫn có những điểm chưa chắc chắn, chẳng hạn lượng CO2 có thể giảm bớt 100 giga-tấn khi tầng băng giá vĩnh cửu và đất ngập nước giải phóng thêm khí methane.

Giám sát biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tại Điều 33 Luật Khí tượng thủy văn 2015, nội dung giám sát biến đổi khí hậu được quy định cụ thể.

Đối với nội dung chi tiết tại khoản 5 và khoản 6 Điều 33, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là người ban hành quy định.

Quy trình giám sát quốc gia

Trên quy mô cả nước, việc theo dõi và đánh giá khí hậu được tiến hành theo 3 bước:

  1. Xây dựng, quản lý, khai thác trạm giám sát biến đổi khí hậu và cơ sở dữ liệu về giám sát biến đổi khí hậu; thu thập thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn quan trắc tại mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng và các thông tin, dữ liệu có liên quan.
  2. Xây dựng bộ chuẩn khí hậu quốc gia; phân tích, đánh giá, theo dõi những biểu hiện của biến đổi khí hậu.
  3. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến thiên tai, tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái, điều kiện sống, hoạt động kinh tế - xã hội và các vấn đề liên ngành, liên vùng, liên lĩnh vực; đánh giá các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế - xã hội; đánh giá khí hậu quốc gia; xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu.

Cơ sở dữ liệu và kịch bản khí hậu

Cần lưu ý rằng Điều 34 Luật Khí tượng thủy văn 2015 quy định cơ sở dữ liệu giám sát biến đổi khí hậu gồm các nội dung sau:

  • Cơ sở dữ liệu về giám sát biến đổi khí hậu là tập hợp, thống nhất toàn bộ thông tin, dữ liệu về giám sát biến đổi khí hậu và là thành phần thuộc cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia.
  • Thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn trong quá khứ và hiện tại quan trắc được từ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng; thông tin, dữ liệu về tác động của thiên tai khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội.
  • Thông tin, dữ liệu về phát thải khí nhà kính và các hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan đến phát thải khí nhà kính; thông tin, dữ liệu quan trắc về ô-dôn, bảo vệ tầng ô-dôn và quản lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn.
  • Bộ chuẩn khí hậu quốc gia; kết quả đánh giá khí hậu quốc gia; kịch bản biến đổi khí hậu các thời kỳ; hồ sơ kỹ thuật của các trạm giám sát biến đổi khí hậu; kết quả nghiên cứu khoa học, chương trình, dự án về giám sát biến đổi khí hậu; văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn kỹ thuật về giám sát biến đổi khí hậu.
  • Thông tin, dữ liệu về giám sát biến đổi khí hậu được lưu trữ, khai thác, sử dụng theo quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Luật này.

Khi quỹ carbon còn lại chỉ khoảng 10 đến 13 năm, việc gấp rút thay đổi thói quen dùng năng lượng và thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường trở nên cấp thiết. Hành động thực tế của mỗi cá nhân cùng các quy định giám sát chặt chẽ sẽ quyết định tương lai của hệ sinh thái toàn cầu.

Hiểu rõ biến đổi khí hậu là gì giúp mỗi người nhận diện chính xác các nguồn phát thải thực tế trong đời sống và sản xuất. Từ việc nắm bắt hệ thống dữ liệu quan trắc đến việc chủ động cắt giảm năng lượng hóa thạch, sự kết hợp giữa khung pháp lý và nỗ lực cá nhân sẽ tạo nên nền tảng vững chắc để xã hội thích ứng an toàn, giảm thiểu tối đa các rủi ro môi trường trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu dễ nhận biết nhất

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu dễ nhận biết nhất

Từ khí quyển, đại dương đến từng vùng đất, Trái Đất đều đang ghi nhận các dấu hiệu biến đổi. Việc nhận diện các biểu hiện của biến đổi khí hậu giúp bạn thấy rõ mức độ ảnh hưởng thực tế trên thế giới và ở Việt Nam.

XEM THÊM

Thấu hiểu về ô nhiễm môi trường để hành động kịp thời

Thấu hiểu về ô nhiễm môi trường để hành động kịp thời

Ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách tại Việt Nam và trên thế giới, khi tình trạng suy thoái nguồn nước hoặc không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cùng đời sống thường ngày của con người. Hiểu đúng và đủ ngay từ bây giờ giúp bạn có cái nhìn toàn diện, từ đó thúc đẩy hành động thực tế nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm.

XEM THÊM

Năng lượng tái tạo là gì? Vai trò trong chuyển dịch xanh

Năng lượng tái tạo là gì? Vai trò trong chuyển dịch xanh

Năng lượng tái tạo cung cấp nguồn tài nguyên dồi dào cho các quốc gia mà không làm hại môi trường. Khi tài nguyên cạn dần và khí hậu biến đổi, việc hiểu rõ năng lượng tái tạo là gì cùng cách đưa vào thực tế sẽ tạo ra giải pháp cho tương lai lâu dài.

XEM THÊM

Net Zero Emission là gì? Làm thế nào để đạt được mục tiêu Net Zero?

Net Zero Emission là gì? Làm thế nào để đạt được mục tiêu Net Zero?

Net zero emission là một trong những mục tiêu mà các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hướng tới để đối phó với biến đổi khí hậu, giảm lượng phát thải xuống mức bằng 0.

XEM THÊM

Tìm hiểu thêm về Hóa Chất Dầu Khí Long Thành Chem

Liên hệ